(VEN) - “Hội nhập về kinh tế mang lại nhiều cơ hội thành công nhưng cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro nhưng không phải vì thế mà Việt Nam đứng ngoài các FTA để bỏ lỡ những cơ hội. Những năm qua, các hiệp định thương mại song phương và đa phương đã mở ra nhiều cơ hội cho các thành phần kinh tế ở Việt Nam phát triển.”
Đó là nhận định của ông Ngô Đức Mạnh, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội tại Hội thảo “Đàm phán và ký kết các Hiệp định Thương mại tự do - Kinh nghiệm và thực tiễn” diễn ra ngày 19/4, tại Hà Nội.
Cơ hội đi cùng thách thức
Theo ông Ngô Đức Mạnh, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan, thu hút ngày càng nhiều nước tham gia, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, trong đó thương mại là lĩnh vực quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm và sử dụng như một động lực phát triển. Kinh tế càng phát triển thì quan hệ thương mại càng mở rộng, sự hiểu biết giữa nhân dân các quốc gia càng được tăng cường, qua đó, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các nước trên thế giới.
Thực tế, tính đến 31/12/2011, Việt Nam đã tham gia 8 hiệp định khu vực thương mại tự do (FTA), trong đó có 6 hiệp định là hiệp định khu vực (ASEAN, ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Nhật Bản, ASEAN - Úc - New Zealand, ASEAN - Ấn Độ) và 2 hiệp định song phương (Việt Nam - Nhật Bản, Việt Nam - Chile).
Với các FTA, thuế quan giảm mạnh là cơ hội lớn tiếp cận thị trường và xuất khẩu cho Việt Nam. Cụ thể, 90% mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN được hưởng mức thuế 0% từ năm 2010. Trung Quốc và Hàn Quốc cũng đã bỏ thuế nhập khẩu cho 90% số dòng thuế từ năm 2010. 95% số dòng thuế và 94% kim ngạch xuất khẩu vào Nhật Bản đã không chịu thuế quan từ năm 2009. 96,4% số dòng thuế của Australia và gần 85% số dòng thuế vào Newzealand đã đạt mức 0% từ năm 2010.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh cho rằng, những lợi ích có được từ FTA là điều khổng thể phủ nhận, tuy nhiên, trong số các đối tác trên thì cơ cấu xuất nhập khẩu của Nhật Bản, Australia, Newzealand và Hàn Quốc có tính bổ sung tương đối cao với Việt Nam, các đối tác còn lại (ASEAN, Trung Quốc, Ấn Độ) có tính bổ sung thấp, nếu như không nói là cạnh tranh với Việt Nam. “Do đó, áp lực cạnh tranh sẽ ngày càng gia tăng đối với DN Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn từ 2015 (khi đó, ERP sẽ giảm đáng kể). Khó khăn sẽ nhiều hơn nếu DN không dần vươn lên nhờ tạo dựng lợi thế cạnh tranh động thông qua học hỏi công nghệ, kỹ năng quản lý và tận dụng lợi thế nhờ quy mô, liên kết”. Thứ trưởng Khánh nói
Đáng lưu ý, các chuyên gia đều nhìn nhận rằng việc mở cửa ở mức hạn chế và tìm kiếm một lộ trình dài, thậm chí đến 19 năm của Việt Nam dẫn đến hai hệ quả. Một là, quá trình chuyển dịch cơ cấu theo lợi thế so sánh (mục đích của FTA) diễn ra chậm, cả doanh nghiệp lẫn các nhà quản lý đều có xu hướng “đủng đỉnh” bởi cho rằng “thời gian còn dài”, một số ít DN thậm chí không quan tâm đến FTA, trừ phi đến hạn thực thi cam kết. Hai là, ta mở cửa ít, với lộ trình dài thì đối tác cũng mở cửa hạn chế cho hàng xuất khẩu của ta. Mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu vì vậy cũng khó đạt được.
Bên cạnh đó, cả 8 FTA mới chỉ chạm đến thương mại hàng hóa và ngay cả với lĩnh vực này cũng mới chỉ xử lý các biện pháp tại biên giới như hàng rào thuế, phi thuế quan… còn các biện pháp sau biên giới không được đề cập. Hạn chế lớn nhất của kiểu “mở cửa” này là không hỗ trợ gì cho quá trình chuyển dịch cơ cấu, điều này chắc chắn sẽ xảy ra khi sức ép cạnh tranh đối với sản xuất trong nước tăng lên do giảm thuế theo FTA.
Bước đi mới
Theo nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, sau khủng hoảng toàn cầu cùng với tiến trình đàm phán Doha đang chững lại sẽ dẫn đến sự ra đời của nhiều khu vực tự do mà Việt Nam có thể là thành viên (như TPP, FTA với EU). Do đó, trong các cuộc đàm phán tới đây, Việt Nam cần thay đổi tư duy để tạo ra những đột phá mới.
“Sự tham vấn của các DN là yếu tố rất quan trọng mà các FTA trước chưa có được thì lần này chúng ta phải làm cho tốt. Nếu các DN chưa làm được việc đó, chúng ta cần khuyến khích, động viên để họ tham gia tích cực và chủ động hơn”. Ông Khoan nhấn mạnh.
Chia sẻ quan điểm trên, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho biết thêm, tham gia đàm phán các FTA mới, sự đồng thuận của cả xã hội, của Chính phủ và Quốc hội, các Bộ ngành cũng có vai trò rất quan trọng trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay. Bên cạnh đó, FTA mới sẽ phải gắn với Chiến lược phát triển KTXH thời kỳ 2011-2020, gắn với tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, đóng góp cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
“Quan tâm hơn tới các đối tác ngoài khu vực, các đối tác mang tíng bổ sung hơn là cạnh tranh và các FTA có thể giúp ta từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế, minh bạch hoá và thuận lợi hóa môi trường kinh doanh là điều chúng ta cần làm”. Thứ trưởng Khánh khẳng định./.
Các tin khác
- Lưu ý khi xuất khẩu hàng thực phẩm và đồ uống sang Hoa Kỳ - 24/04/2012
- Năm 2012 khó đạt mục tiêu tăng trưởng 6 - 6,5% - 20/04/2012
- CPI tháng 4 sẽ tăng thấp nhất 2 năm qua - 20/04/2012
- Thị trường gạo xuất khẩu đang thuận cho Việt Nam? - 17/04/2012
- Ngành than Việt Nam gặp khó khăn về tiêu thụ sản phẩm - 16/04/2012






















