(VEN) - Với số lượng các dự án nguồn điện của Quy hoạch điện VI được thực hiện chỉ vào khoảng 70% so với mục tiêu đề ra, do đó còn rất nhiều vấn đề Quy hoạch điện VII cần phải giải quyết.
Nhiều mục tiêu trong Quy hoạch điện VI chưa đạt mục tiêu
Theo thống kê của Bộ Công Thương, trong giai đoạn 2006-2010, với tổng công suất nguồn xây dựng và đưa vào vận hành khoảng trên 10.000 MW, so với công suất dự kiến đưa vào trong Quy hoạch điện VI là 14.581 MW thì chỉ đạt gần 70%. Lưới điện truyền tải cũng chỉ đạt khoảng 50% khối lượng quy hoạch. Việc xây dựng nguồn - lưới điện chậm trễ so với quy hoạch cộng với lượng nước về các hồ thủy điện thấp hơn nhiều năm đã gây ra tình trạng thiếu điện, làm ảnh hưởng đến đời sống người dân, đặc biệt là trong tháng 6 và tháng 7/2010.
Bàn về nguyên nhân khiến cho các dự án nguồn – lưới điện không đạt mục tiêu kế hoạch, ông Phạm Mạnh Thắng – Vụ trưởng Vụ Năng lượng – Bộ Công Thương cho biết: Thứ nhất là các dự án điện đều thiếu vốn. Với trên dưới 40 dự án xây dựng nguồn điện và hàng chục dự án xây dựng lưới điện truyền tải, EVN và các nhà đầu tư khác đều gặp khó khăn lớn trong huy động các nguồn vốn, kể cả vốn vay trong nước và vay nước ngoài. Minh chứng thêm cho khó khăn trên, ông Dương Quang Thành – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết: Trong giai đoạn 2006-2010, Việt Nam chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, vốn cho các dự án điện gặp rất nhiều khó khăn. Có những thời điểm EVN phải vay vốn với lãi suất khoảng trên 20%. Thậm chí dù chịu mức lãi suất cao như vậy rồi nhưng vẫn không có vốn để vay.
Khó khăn thứ hai của việc chậm trễ các dự án nguồn – lưới điện là các nhà đầu tư dàn trải nguồn vốn hạn hẹp, nguồn nhân lực hạn chế cùng lúc vào một số lượng lớn các dự án nhưng công tác điều hành chưa thực sự quyết liệt, chưa ưu tiên đúng mức vào các dự án trọng tâm, do đó dễ dẫn đến các yếu tố bất lợi trong quản lý triển khai các dự án (kể cả phía ban quản lý và đơn vị tư vấn). Thứ ba là nhiều nhà thầu chưa đủ năng lực, dẫn đến kéo dài thời gian xây dựng, các công trình xây dựng xong vận hành không ổn định, liên tục phải dừng máy để sửa chữa, thay thế, hiệu chỉnh… Thứ tư là việc đầu tư phát triển sản xuất các thiết bị điện trong nước chưa theo kịp nhu cầu, nên các DN phải phụ thuộc nhiều vào thiết bị nhập ngoại. Cơn khủng hoảng giá dầu, giá nhiên liệu thế giới trong 2 năm 2007-2008 cũng tác động, làm cho giá cả vật liệu, thiết bị đồng loạt tăng cao, thời gian cấp hàng kéo dài hơn thông thường, gây thêm khó khăn cho công tác xây dựng các dự án điện. Thứ năm, trong quy hoạch điện VI đã xác định các nhà máy nhiệt điện than ở miền Nam sẽ sử dụng than nhập khẩu, nhưng nhiều năm qua, việc nhập khẩu than chưa được tiến hành thành công, các nhà cung cấp than như Indonesia, Úc đã có thị trường và chưa cân đối được lượng than bán cho Việt Nam. Do đó, nhiều dự án nhà máy nhiệt điện như Vĩnh Tân I, II, Duyên Hải I đã phải thêm thời gian thay đổi các thiết kế, chuyển sang sử dụng than trong nước. Thứ sáu là các dự án xây dựng lưới điện chậm trễ do việc chuẩn bị mặt bằng, hành lang tuyến, bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại các khu dự án gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian xây dựng thêm khoảng 6 tháng đến hàng năm.
Đối với giá điện, mặc dù đã có sự điều chỉnh tăng 3 lần trong giai đoạn 2006-2010 nhưng nhìn chung, giá bán điện hiện nay vẫn chưa đủ để vừa bù chi phí sản xuất vừa tích lũy tái đầu tư nên chưa hấp dẫn nhà đầu tư. Chưa kể đến việc giá điện thấp hơn so với các nước trong khu vực nhà đầu tư tập trung nhiều vào các dự án thép, xi măng…, làm vỡ quy hoạch các ngành này. Đồng thời, giá điện cũng khiến ý thức sử dụng điện dù đã phần nào được cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp.
Giải pháp nào cho Quy hoạch điện VII?
Nói về những khó khăn trong thực hiện quy hoạch điện VII, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng nhận định: “Giai đoạn 2006-2010 chỉ đặt chỉ tiêu đưa tổng công suất nguồn điện vào vận hành thêm khoảng 14.000 MW, tức là khoảng 3.000 MW mỗi năm nhưng vẫn không hoàn thành. Trong giai đoạn tới, với mục tiêu đến năm 2020 đưa tổng công suất lên thêm khoảng 55.000 MW, tức là khoảng hơn 5.000 MW mỗi năm, tình hình sẽ còn khó khăn hơn nữa”.
Để những khó khăn tại Quy hoạch điện VI không lặp lại ở Quy hoạch điện VII, theo ý kiến của nhiều chuyên gia cũng như các đơn vị đầu tư ngành điện, giải pháp quan trọng hàng đầu hiện nay là sớm đưa thị trường điện cạnh tranh vào vận hành và thực hiện giá bán điện theo Thông tư 41/2010/TT-BCT ngày 14/12/2010 của Bộ Công Thương nhằm tạo sự minh bạch, công bằng cho các chủ đầu tư các dự án nguồn điện khi đàm phán và ký hợp đồng mua bán điện với EVN. Đồng thời, để tránh tình trạng chậm tiến độ các dự án điện như hiện nay, Bộ Công Thương cũng đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế lựa chọn chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện dự án và đề ra các chế tài quản lý quá trình thực hiện các dự án điện tránh tình trạng chậm tiến độ.
Với khó khăn lớn của ngành điện là vốn đầu tư, Bộ Công Thương cũng kiến nghị Chính phủ giao Bộ Tài chính cấp bảo lãnh vay nước ngoài cho các dự án điện; giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các Ngân hàng thương mại ưu tiên thu xếp đủ vốn và giải ngân kịp thời cho các dự án điện. Đồng thời, để tạo thuận lợi cho các dự án điện trong công tác giải phóng mặt bằng, Bộ cũng đề xuất Chính phủ giao cho UBND các tỉnh phối hợp chặt chẽ với các chủ đầu tư dự án để đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư, đáp ứng đúng yêu cầu tiến độ của các dự án điện. Các dự án điện có thể được thực hiện với các hình thức khác EPC (có thể E, P, C hoặc EP và C), trong đó điểm mấu chốt là các đơn vị tư vấn của Việt Nam cần phát triển năng lực thiết kế của mình để đảm nhiệm toàn bộ khâu thiết kế (E) tại các công trình công nghiệp nói chung và các dự án nhiệt điện nói riêng thay vì chỉ giới hạn ở khâu lập dự án đầu tư như hiện nay./.
|
Tính đến năm 2010, tổng công suất lắp đặt các nhà máy điện vào khoảng 20.600 MW (nếu kể cả 950 MW nhập khẩu từ Trung Quốc thì tổng công suất nguồn vào khoảng 21.500 MW, tăng gấp 3,2 lần so với 10 năm trước và 1,78 lần so với năm 2005). Sản lượng điện sản xuất đạt khoảng 100 tỷ kWh, gấp trên 3,7 lần năm 2000 và 1,88 lần so với năm 2005. Cũng tính đến năm 2010, hệ thống lưới điện đã có trên 3.400 km đường dây và 11 trạm 500 kV với tổng dung lượng 7.500 MVA; lưới 220 kV có gần 8.500 km với dung lượng các máy biến áp vào khoảng 19.000 MVA. Lưới điện 110 kV và lưới trung, hạ thế đã bao phủ 100% huyện; 97,9% xã. Tính chung cả nước đã có khoảng 96% hộ được cấp điện từ điện lưới quốc gia. |
Theo Dẫn theo Ven.vn
Các tin khác
- Chống đô la hóa nền kinh tế và giải pháp khơi thông thị trường - 12/02/2012
- Hội thảo khoa học quốc tế hóa học các vật liệu khung cơ - kim - 12/02/2012
- Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ đang ngày càng phát huy vai trò - 12/02/2012
- Tìm vốn cho thị trường bất động sản không dễ - 12/02/2012
- Giá sẽ tăng nhưng không quá lo ngại! - 12/02/2012






















