(VEN) - Việt Nam luôn coi trọng nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và coi đây như nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Vì thế, ngày 7/4/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP về định hướng, giải pháp thu hút và quản lý nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Sau một thời gian thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 13, tình hình thu hút FDI của Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một số tập đoàn lớn trên thế giới đã bắt đầu “để mắt” tới Việt Nam. Tuy nhiên, một điều cũng dễ nhận thấy trong thu hút và quản lý nguồn vốn FDI tại Việt Nam đó là, bên cạnh những kết quả đạt được, những bất cập trong thu hút và quản lý nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam vẫn còn tồn tại.
Cụ thể, tình trạng cấp giấy chứng nhận đầu tư không phù hợp quy hoạch còn diễn ra ở một số địa phương, đặc biệt trong các dự án sân golf, trồng rừng, sản xuất thép, khai thác khoáng sản. Nhiều dự án chưa được thẩm tra, xem xét kỹ các tiêu chí về kỹ thuật, công nghệ, môi trường, lao động… dẫn đến chất lượng các dự án chưa cao, thiếu sự liên kết giữa các DN FDI và DN trong nước. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của nhà đầu tư về tiến độ góp vốn, huy động vốn, cũng như hoạt động xây dựng, môi trường, chuyển giao công nghệ, thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động và nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước chưa tốt, thiếu sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương. Mặt khác, sự yếu kém về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là tình trạng thiếu điện, bất cập của hệ thống cảng và các công trình hạ tầng liên quan, sự thiếu hụt trầm trọng nguồn lao động đã qua đào tạo, kỹ sư, cán bộ quản lý, tiếp tục là những rào cản đối với hoạt động của các DN FDI.
Để khắc phục được tình trạng này, đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị quyết 13 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 1617/CT-TTg về việc tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới.
Chỉ thị đã đưa ra những mục tiêu, định hướng thu hút, quản lý nguồn vốn FDI cho cả giai đoạn 2011-2020. Theo đó, cần sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả nguồn vốn FDI sao cho phù hợp với định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 2011-2020 theo hướng khuyến khích kinh tế có vốn FDI phát triển theo quy hoạch; ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai; tập trung thu hút vào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức cao; ưu tiên phát triển các dự án có sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, các sản phẩm có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu… Đồng thời, hạn chế các dự án đầu tư vào khu vực phi sản xuất, làm gia tăng tình trạng nhập siêu, tiêu tốn năng lượng, khai thác không gắn với chế biến. Không cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án sử dụng lãng phí năng lượng, tài nguyên, sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.
Mặt khác, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động DN FDI để đảm bảo chất lượng của hoạt động này trong tình hình mới. Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về ĐTNN nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành địa phương trong toàn bộ quá trình cấp giấy chứng nhận đầu tư, quản lý dự án và kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư.
Để thực hiện được mục tiêu này, chỉ thị đưa ra 8 giải pháp chủ yếu, bao gồm: xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp với định hướng thu hút FDI giai đoạn 2011-2020; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch từ khâu lập, thẩm định, phê duyệt đến quản lý quy hoạch; hoàn thiện, nâng cao hiệu quả chế độ phân cấp quản lý FDI, bao gồm việc phân cấp cấp giấy chứng nhận đầu tư, quản lý hoạt động FDI và phân cấp quản lý một số lĩnh vực; nâng cao hiệu quả công tác quản lý dòng vốn FDI; nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm hạn chế và ngăn chặn tình trạng chuyển giá của các DN có vốn FDI; Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI, đặc biệt là việc thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật chuyên ngành đối với các dự án FDI có quy mô lớn, sử dụng nhiều đất,…; Rà soát và xử lý theo quy định của pháp luật đối với các dự án chậm triển khai hoặc không triển khai; Kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư trong việc cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận đầu tư; nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư theo nguyên tắc tuân thủ tổng thể phát triển các vùng kinh tế xã hội,quy trình, thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư./.
Theo Dẫn theo Ven.vn