JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcXu thế hình thành các thỏa thuận thương mại (FTA) và sự tham gia của Việt Nam

Xu thế hình thành các thỏa thuận thương mại (FTA) và sự tham gia của Việt Nam

FTA 5

Xu hướng hình thành các FTA khu vực và song phương

Thỏa thuận thương mại tự do (Free Trade Agreement – FTA) là thỏa thuận mà các bên sẽ dành cho nhau hưởng ưu đãi về mở cửa thị trường, chủ yếu là hàng hóa, dịch vụ và đầu tư. Một FTA được xem là đáp ứng tiêu chuẩn cơ bản của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) khi phần lớn thương mại giữa các bên tham gia sẽ được lưu chuyển tự do sau 10 năm kể từ khi thỏa thuận FTA có hiệu lực.

Hiện nay, việc  hình thành các FTA trên thế giới đang theo những xu hướng sau:

FTA hình thành và phát triển mạnh ở hầu khắp các khu vực trên thế giới. Từ những năm đầu của thập niên 1990, song song với quá trình toàn cầu hoá, chủ nghĩa khu vực (regionalism) đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về lượng và về chất. Trước đó, chủ nghĩa khu vực thường mang hình thái khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area) nhưng kể từ thập niên 1990, hình thái FTA (Free Trade Agreement) song phương hoặc nhiều bên trở nên phổ biến hơn, với phạm vi hợp tác rộng hơn, không chỉ giới hạn trong việc thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ mà còn cả xúc tiến và tự do hoá đầu tư, hợp tác chuyển giao công nghệ, thuận lợi hóa thủ tục hải quan, xây dựng năng lực và nhiều nội dung mới khác như lao động, môi trường. Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, FTA đang là trào lưu phát triển mà các quốc gia không thể đứng ngoài cuộc, đặc biệt là sau thất bại của vòng đàm phán Đô-ha năm 2000, số lượng FTA trên toàn cầu đã tăng từ 16 (cuối năm 1989) lên 171 (năm 2009).

Tại khu vực châu Á, FTA chiếm tỷ lệ lớn trong các hoạt động thương mại của khu vực này. Trong đó, FTA ở khu vực Đông Nam Á chiếm số lượng nhiều nhất với 86 FTA thực hiện tính đến năm 2008.

Các FTA ngày càng phát triển theo chiều sâu. Cùng với các mục tiêu truyền thống là dỡ bỏ các rào cản, nhiều thỏa thuận thương mại đang hướng đến tự do hóa dịch vụ thương mại, đầu tư nước ngoài cũng như đơn giản hoát các thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại. FTA Nhật Bản – Xing-ga-po và EU là những ví dụ điển hình. FTA Nhật Bản – Xing-ga-po không chỉ là thỏa thuận thương mại tự do về tự do hóa và đơn giản hóa trong lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, thương mại, đầu tư nước ngoài mà còn là quy tắc chung về dịch chuyển lao động, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, khoa học và công nghệ, phát thanh truyền hình và du lịch.

Bên cạnh đó, các FTA có xu hướng chuyển sang hình thức các hiệp định song phương. Khi vòng đàm phán Đô-ha bị đình trệ, số lượng các FTA song phương và khu vực được ký kết tăng lên đáng kể. Theo WTO, tính đến tháng 3/2010, đã có 271 hiệp định thương mại (trong đó bao gồm các hiệp định song phương) có hiệu lực.

Các khu vực kinh doanh đang dần coi FTA song phương như là phương tiện hiệu quả trong mở cửa thị trường hơn là các cuộc đàm phán đa phương. Ở châu Á, FTA song phương được ký kết chiếm tới 77%. Cụ thể, FTA giữa khu vực ASEAN với các quốc gia châu Á như FTA  ASEAN – Trung Quốc (có hiệu lực từ năm 2004), FTA ASEAN – Hàn Quốc (có hiệu lực từ năm 2007), FTA  ASEAN- Nhật Bản (có hiệu lực từ năm 2008), FTA ASEAN – Úc – Niu-di-lân (được ký năm 2009).

Nguồn : http://www.ncseif.gov.vn

Từ khóa : Xu thế, hình thành, các thỏa thuận thương mại (FTA), và sự tham gia, của Việt Nam.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008777901
Go to top