JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcCác hãng thời trang Mỹ chia sẻ xu hướng tìm nguồn cung ứng và chiến lược

Các hãng thời trang Mỹ chia sẻ xu hướng tìm nguồn cung ứng và chiến lược

thời trang

Lo ngại về vấn cạnh tranh thị trường tại Mỹ lần đầu tiên đã vượt qua lo ngại về vấn đề chi phí sản xuất và tìm nguồn cung ứng – theo nghiên cứu triển vọng 5 năm tới dành cho ngành công nghiệp thời trang Mỹ. Nghiên cứu này bao gồm mô hình “Trung Quốc và nhiều nước khác”, sự tăng trưởng ở Việt Nam dưới ảnh hưởng của hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), và các nguồn cung ứng mới cho các công ty Mỹ như Myanmar và Cuba.

Nghiên cứu chuẩn đối sánh dành cho ngành công nghiệp thời trang Mỹ (Fashion Industry Benchmarking Study - FIBS) gồm kết quả khảo sát nhiều doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực dệt may, trang phục, thương hiệu thời trang, bán lẻ, và nhập khẩu về triển vọng kinh doanh, các biện pháp tìm nguồn cung ứng, tình hình sử dụng các hiệp định thương mại tự do và chương trình ưu đãi hiện có, cũng như các quan điểm về chính sách thương mại của các doanh nghiệp này.

Nghiên cứu trên được xuất bản bởi Hiệp hội Công nghiệp thời trang Mỹ (USFIA). Nghiên cứu đã cho thấy, mặc dù vẫn còn nhiều thách thức tồn tại, chẳng hạn như sự không ổn định trong nền chính trị Mỹ, nhưng đại đa số các doanh nghiệp được khảo sát (92%) đều rất lạc quan về triển vọng 5 năm tiếp theo của ngành công nghiệp thời trang Mỹ - mức cao kỷ lục so với các nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian 3 năm về trước.

Quan trọng hơn, sự lạc quan trên đã khiến nhu cầu đối với người lao động có tay nghề cao của các doanh nghiệp gia tăng. 83% doanh nghiệp tham gia khảo sát có kế hoạch  thuê thêm nhân viên trong 5 năm tiếp theo.

Cụ thể, nhu cầu đối với các nhà thiết kế thời trang, nhân viên mua hàng và đặt hàng, chuyên gia tìm nguồn cung ứng, và các chuyên gia đánh giá mức độ tuân thủ trách nhiệm xã hội (social compliance specialists) sẽ gia tăng.

Tổng chi phí kiểm soát sản xuất và nguồn cung ứng ít được quan tâm hơn trong năm 2016. Chỉ có 33% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng chi phí là một trong những thách thức lớn nhất trong công việc kinh doanh của họ, thấp hơn so với con số 43% doanh nghiệp vào năm 2015 và 81% doanh nghiệp trong năm 2014.

Ngoài ra, 77% doanh nghiệp cho biết chi phí gia tăng là một trong ba trở ngại lớn đối với việc tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2016, giảm 12% so với năm 2015.

Năm 2016, chi phí lao động vẫn là yếu tố số một tác động lên chi phí cung ứng của các công ty thời trang Mỹ. Đáng chú ý là hơn một nửa số doanh nghiệp được khảo sát cho rằng việc tuân thủ các quy định thương mại sẽ khiến chi phí cung ứng của họ trong năm 2016.

Nghiên cứu FIBS được tiến hành từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2016, với sự tham gia của Tiến sĩ Sheng Lu - trợ lý giáo sư tại Khoa nghiên cứu thời trang và trang phục thuộc trường Đại học Delaware.

Trong số 30 giám đốc tham gia khảo sát, 92% có hơn 500 nhân viên đang làm việc trong công ty của họ, và 84% có hơn 1.000 nhân viên. Do đó, các quan điểm của những giám đốc tham gia khảo sát sẽ có ảnh hưởng nhất định trong ngành công nghiệp thời trang Mỹ.

Xu hướng tìm nguồn cung ứng

Khi nói đến vấn đề tìm nguồn cung ứng, các công ty thời trang Mỹ đang tích cực tìm kiếm thêm nhiều lựa chọn khác nhau nhằm thay thế nguồn cung từ Trung Quốc trong năm 2016. Tuy nhiên, vị trí nguồn cung ứng số một thế giới của Trung Quốc có vẻ sẽ không bị thay đổi quá sớm.

Tất cả doanh nghiệp tham gia khảo sát đều cho biết họ lấy nguồn cung từ Trung Quốc. Có đến 61,5% doanh nghiệp cho biết sẽ giảm bớt nguồn cung từ Trung Quốc trong 2 năm tiếp theo, nhưng chỉ có 4% doanh nghiệp cho biết sẽ giảm mạnh nguồn cung từ Trung Quốc.

Trong khi đó, nguồn cung ứng từ Việt Nam và Bangladesh có thể sẽ tiếp tục tăng trong 2 năm tiếp theo, nhưng với tốc độ chậm hơn trước.

Mặc dù có 61% doanh nghiệp tham gia khảo sát có kế hoạch tăng nguồn cung từ Việt Nam nhiều hơn trong hai năm tiếp theo, nhưng chỉ có 4% doanh nghiệp có kế hoạch tăng mạnh nguồn cung từ nước này. Con số này giảm đáng kể so với con số 21,4% doanh nghiệp trong đợt khảo sát năm 2015.

Kết quả trên phản ánh sự lo ngại của doanh nghiệp trước tương lai không chắc chắn xung quanh việc thông qua hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cũng như khả năng Việt Nam có thể sẽ không đáp ứng được nguyên tắc "từ sợi trở đi” (yarn forward rule) trong hiệp định TPP.

Trong khi đó, Bangladesh lại nằm trong 5 nguồn cung ứng phổ biến nhất trong năm 2016. Có đến 70% doanh nghiệp tham gia khảo sát sử dụng nguồn cung ứng từ nước này. Đây là một sự gia tăng đáng kể, vì năm 2015 Bangladesh đứng vị trí thứ 10 và chỉ có 50% doanh nghiệp khảo sát sử dụng nguồn cung tại đây.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp tham gia khảo sát có vẻ thận trọng hơn đối với việc tăng nguồn cung ứng từ Bangladesh trong vòng hai năm tiếp theo - chỉ có 22,7% doanh nghiệp hy vọng tăng nguồn cung ứng tại nước này, thấp hơn nhiều so với mức 42,3% khảo sát được trong năm 2015.

Mặc dù hầu hết các công ty thời trang Mỹ tiếp tục mở rộng phạm vi trên toàn cầu và duy trì chuỗi cung ứng toàn cầu, một số công ty cũng cho biết họ có kế hoạch củng cố các cơ sở cung ứng hiện tại của mình trong vòng 2 năm tới nhằm tăng cường mối quan hệ với các nhà cung cấp chính và nâng cao hiệu quả.

Các doanh nghiệp tham gia khảo sát lấy nguồn cung ứng từ 56 quốc gia trong năm 2016 - gia tăng đáng kể so với con số 41 quốc gia trong năm 2015.

Tuy 90% doanh nghiệp có kế hoạch điều chỉnh cơ sở cung ứng trong 2 năm tiếp theo, các doanh nghiệp được khảo sát lại có 2 luồng ý kiến bất đồng: một nhóm muốn tập trung đa dạng hóa nguồn cung ứng nhiều hơn nữa (44%), và nhóm còn lại thì muốn tập trung củng cố cơ sở cung ứng hiện tại (30%).

Các nhà bán lẻ và các thương hiệu thời trang thì có xu hướng nghiên về phía đa dạng hóa nguồn cung ứng nhiều hơn là các nhà nhập khẩu, các nhà bán sỉ và các nhà sản xuất.

“Trung Quốc và nhiều nước khác” đã trở thành chiến lược tìm nguồn cung ứng phổ biến của các doanh nghiệp thời trang Mỹ. Trong thực tế có đến 77% doanh nghiệp cho biết nguồn cung ứng từ Trung Quốc chiếm dưới 50% tổng giá trị hoặc tổng khối lượng nguồn cung ứng của họ.

Việt Nam và một số nước châu Á là các nguồn cung ứng phổ biến khác bên cạnh Trung Quốc, và nguồn cung ứng từ các nước này thường chiếm dưới 30% danh mục cung ứng của các doanh nghiệp. Hầu hết nguồn cung ứng từ các nước hoặc khu vực còn lại chiếm dưới 10%.

Tương tự nhu năm 2015, chỉ có hơn một nửa số doanh nghiệp được khảo sát cho biết lấy nguồn cung ứng từ Mỹ - nguồn cung ứng này chỉ chiếm 10% danh mục nguồn cung ứng của các doanh nghiệp.

¼ số doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ đang bắt đầu tìm kiếm các nguồn cung ứng từ các thị trường tiềm năng mới như Myanmar và Ethiopia, trong khi 4% doanh nghiệp đã bắt đầu kế hoạch lấy nguồn cung ứng từ Cuba.

Tuy vậy, nguồn cung ứng phải đảm bảo được tính đạo đức và tính bền vững vẫn là một yếu tố quan trọng đối với các công ty thời trang Mỹ. Các doanh nghiệp được khảo sát cho biết việc nguồn cung ứng không đáp ứng được các tiêu chuẩn chẳng hạn như các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội… sẽ là nguyên nhân hàng đầu gây ra rủi ro cho chuỗi cung ứng.

Sự lo ngại nguồn cung ứng không đáp ứng được các tiêu chuẩn trên nhiều hơn hẳn so với các lo ngại về các vấn đề khác như tranh chấp lao động, tình trạng bất ổn chính trị, và thiếu nguồn lực để quản lý rủi ro trong chuỗi cung ứng.

Chính sách thương mại và ngành công nghiệp thời trang Mỹ

Nhìn chung, các công ty thời trang Mỹ đều rất vui mừng trước việc hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết và đều hy vọng nhận được nhiều lợi ích sau khi hiệp định TPP đi vào thực thi.

Tuy nhiên, nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) và các chương trình ưu đãi thương mại mà Mỹ hiện có vẫn chưa được tận dụng hiệu quả trong năm 2016. Thậm chí mức độ tận dụng một số FTA, trong đó có NAFTA và DR-CAFTA, còn ít hơn nhiều so với những năm trước.

Năm 2016, các doanh nghiệp được khảo sát lấy nguồn cung từ 8 nước thành viên hiệp định TPP gồm Việt Nam, Mexico, Mỹ, Malaysia, Canada, Peru, Singapore và Nhật Bản – tăng so với con số 5 nước trong năm 2015.

92% doanh nghiệp hy vọng hiệp định TPP sẽ có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của họ trong 5 năm tiếp theo, và 77% doanh nghiệp cho biết họ đã bắt đầu phân tích hiệp định TPP và thảo luận về các tác động của hiệp định này. 62% doanh nghiệp cho biết họ ngay lập tức sẽ sử dụng hiệp định TPP khi hiệp định này có hiệu lực.

Tuy nhiên, nguyên tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” sẽ là một rào cản lớn đối với các công ty thời trang Mỹ muốn sử dụng hiệp định TPP. Khoảng 20% doanh nghiệp được khảo sát cho biết sẽ không sử dụng hiệp định TPP trong vòng 2 năm đầu hiệp định có hiệu lực do nguyên tắc “từ sợi trở đi”.

Trong khi đó, lịch trình loại bỏ dần thuế quan theo TPP có vẻ nhận được ít sự quan tâm từ các doanh nghiệp.

Các công ty thời trang Mỹ xem khu vực TPP là nơi có thể tìm thêm các nguồn cung ứng chứ không phải là nơi thay thế cho các nguồn cung ứng hiện tại. Có 77% doanh nghiệp hy vọng sẽ có thêm nguồn cung ứng hàng dệt may và trang phục từ các nước thành viên TPP trong 5 năm tiếp theo, nhưng chỉ có 4% doanh nghiệp cho biết sẽ giảm nguồn cung ứng từ các quốc gia không phải là thành viên của hiệp định TPP.

38% doanh nghiệp cho biết sẽ có chiến lược điều chỉnh hoặc sắp xếp lại chuỗi cung ứng của họ dựa theo hiệp định TPP trong 5 năm tiếp theo, nhưng chỉ có 12% doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư nhiều hơn trong khu vực TPP, chẳng hạn như xây dựng nhà máy hoặc mở các cửa hàng bán lẻ.

Nhờ vào việc Luật Hỗ trợ Phát triển Châu Phi (African Growth and Opportunity Act – AGOA) được gia hạn thêm 10 năm vào năm 2015, các công ty Mỹ cũng nhiệt tình hơn trong việc tìm nguồn cung ứng từ khu vực này. Đặc biệt, hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát đều nhận định điều khoản “vải từ nước thứ ba” là nhân tố quan trọng khiến họ muốn tìm nguồn cung ứng ở khu vực AGOA.

Năm 2016, các doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ lấy nguồn cung ứng từ 5 nước thành viên AGOA gồm Mauritius, Lesotho, Kenya, Madagascar, và Nam Phi. 33% doanh nghiệp cho biết họ đã bắt đầu mở rộng nguồn cung ứng hàng dệt may và trang phục từ các nước trong khu vực AGOA, trong khi 14% doanh nghiệp cho biết họ sẽ có chiến lược điều chỉnh hoặc thiết kế lại các chuỗi cung ứng dựa theo AGOA trong 5 năm tiếp theo.

Tuy nhiên, ngay cả khi AGOA đã được gia hạn thêm 10 năm, chỉ có 14% doanh nghiệp được khảo sát cho biết sẵn sàng đầu tư nhiều hơn - chẳng hạn như xây dựng nhà máy sản xuất và mở rộng nguồn cung ứng, trong khu vực AGOA vào thời điểm hiện tại.

Các FTA và các chương trình ưu đãi

Năm 20146, các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các chương trình ưu đãi thương mại vẫn được tận dụng tối đa. Thậm chí mức độ tận dụng một số FTA, trong đó có NAFTA và DR-CAFTA, còn ít hơn những năm trước.

Trong số 19 FTA và chương trình ưu đãi được nghiên cứu, không có FTA và chương trình nào được hơn 60% doanh nghiệp tham gia khảo sát sử dụng cho mục đích nhập khẩu hàng hóa, và chỉ có 3 FTA được sử dụng bởi hơn 40% doanh nghiệp.

Đáng lo ngại hơn, một số công ty thời trang Mỹ lấy nguồn cung ứng từ các nước hoặc vùng lãnh thổ có FTA hoặc chương trình ưu đãi thương mại với Mỹ, nhưng vì một số lý do, những công ty này lại không sử dụng đến các ưu đãi thuế quan.

Chẳng hạn, có 22% doanh nghiệp tham gia khảo sát không sử dụng NAFTA và 15% không sử dụng DR-CAFTA khi họ lấy nguồn cung ứng từ hai khu vực này.

Các doanh nghiệp được khảo sát hầu như đều nhất trí ủng hộ việc Mỹ giảm thuế nhập khẩu đối với trang phục và các phụ liệu trang phục (96%), mở rộng Hệ thống ưu đãi phổ cập chung (Generalized System of Preferences - GSP) cho hàng dệt may, trang phục và giày dép (92%), và giảm các yêu cầu về thủ tục hồ sơ đối với xuất nhập khẩu hàng dệt may và trang phục theo các hiệp định thương mại tự do (92%).

Nguồn : Just-style - TV

Từ khóa : Các hãng thời trang Mỹ, chia sẻ, xu hướng, tìm nguồn cung ứng, và chiến lược.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008775060
Go to top