
Lợi ích quốc gia của Mỹ trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương là vô cùng quan trọng. Quốc gia dẫn đầu khu vực, Trung Quốc, hiện là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới với GDP 10.360.105 triệu USD trong năm 2014 (theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới). Sự tăng trưởng vượt bậc và chưa từng có của nền kinh tế Trung Quốc trong vài thập kỷ qua đã tạo ra những thách thức và cơ hội mới cho nền kinh tế Mỹ. Trong quá khứ, Mỹ đã sử dụng các cường quốc châu Á để tạo ra một nền kinh tế dựa vào nhập khẩu trong nước, nhưng hệ thống địa chính trị trong khu vực châu Á thay đổi đã không còn có thể duy trì cơ sở hạ tầng thương mại hiện nay.
Sự phát triển của nền kinh tế thương mại của châu Á đã khiến khu vực này trở thành “tô phở” của các Hiệp định thương mại tự do, một dạng của tự do hóa thương mại tiến bộ, mà trong đó có sự tham gia của Mỹ. Sự tham gia vào các hiệp định như Hiệp định khung về thương mại và đầu tư (TIFA), hiệp định Mỹ ký trực tiếp với các nước ASEAN, là mô hình tự do hóa thương mại trong tương lai.
Cái gọi là "tô phở" là sản phẩm của tự do hóa thương mại ở châu Á. Với Trung Quốc dẫn đầu, khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã trải qua một sự thay đổi lớn trong quan hệ song phương cho tự do hóa để duy trì Á như là một thực thể duy nhất. Mặc dù Trung Quốc là cường quốc thương mại châu Á, các nhóm nổi bật như ASEAN đang có xu hướng ra đời với mô hình của các nước nhỏ hình thành quan hệ đối tác để thúc đẩy thương mại lành mạnh với Trung Quốc và các nền kinh tế thế giới lớn hơn khác. Cấu trúc này chủ yếu tập hợp tất cả các nhu cầu xuất khẩu và nhập khẩu, sắp xếp chúng với các FTA thích hợp. Trong tương lai, thương mại song phương trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ càng trở nên khó khăn và không hiệu quả, và cũng không đạt được lợi ích cao nhất cho Mỹ. Vì vậy, câu hỏi vẫn là: lợi ích quốc gia của Mỹ có lớn hơn khi theo đuổi tự do hóa hơn nữa tại khu vực châu Á, hay duy trì cách thức hợp tác thương mại song phương và đa phương cũ để bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế riêng của mình?
Lợi ích quốc gia của Mỹ về kinh tế trong khu vực Thái Bình Dương là không thể phủ nhận
Lợi ích quốc gia về kinh tế trong khu vực Thái Bình Dương là không thể phủ nhận. Theo Matthew Goodman, các chính sách gần đây của Mỹ với sự tham gia của Thái Bình Dương đã được thúc đẩy bởi ba yếu tố: Thúc đẩy tăng trưởng, tăng cường hệ thống dựa trên quy tắc toàn cầu, và duy trì sự hiện diện lâu dài của Mỹ trong khu vực. Tự do hóa thương mại đã trở thành vấn đề quan trọng và không thể thiếu ở Mỹ, được chứng minh bởi sự thông qua TPP và sự phát triển của TTIP. Đối với việc tạo ra công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế, Mỹ đã bắt đầu hiểu được ý nghĩa của một lực lượng lao động của Trung Quốc được kích hoạt. Nới lỏng thương mại với Trung Quốc trong những năm 1990 đã dẫn tới một làn sóng khổng lồ của hàng hóa lao động rẻ từ châu Á, và do đó dẫn đến tình trạng thâm hụt thương mại Trung Quốc – Mỹ. Theo báo cáo của Cục Thống kê Mỹ, thâm hụt đã tăng lên đều đặn, tính đến tháng 8 năm 2015, mức thâm hụt lên tới 48,3 tỷ USD. Điều này có nghĩa rõ ràng rằng Mỹ đã trở thành một nền kinh tế dựa vào nhập khẩu, và điều này không phải là cách hướng tới một nền kinh tế Mỹ khỏe mạnh và thị trường lao động trong nước.
Châu Á có tiềm năng lớn cho tương lai của nền kinh tế Mỹ, nhưng nó phải được nhìn từ ống kính chính xác. Mục tiêu không phải là để tạo ra một hệ thống kinh tế dựa vào nhập khẩu ngày càng tăng ở Mỹ, mà là để thúc đẩy bình đẳng trong thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế mà sẽ giúp đôi bên cùng có lợi. Cần phải có một sự cân bằng để tránh tình trạng hàng hóa giá rẻ tràn ngập thị trường Mỹ, tạo ra một thị trường cho xuất khẩu của Mỹ ở châu Á, trong khi nhập khẩu hàng hoá chất lượng châu Á ở mức bền vững. TPP là một nỗ lực đáng kể để thúc đẩy quan hệ kinh tế với các nền kinh tế nhỏ hơn mà có rất ít khả năng thương lượng với Trung Quốc. Thông qua các biện pháp tự do hóa thương mại, Mỹ có thể hy vọng tự do hóa nền kinh tế thương mại của riêng mình, gia tăng xuất khẩu một cách an toàn tại Thái Bình Dương.
Tiềm năng hình thành một Hiệp định thương mại tự do toàn khu vực châu Á - Thái Bình Dương (FTAAP) đã tăng lên. Điều này sẽ được tạo ra bằng cách phát triển hoặc là TPP hay RCEP. Kết quả cuối cùng này sẽ thuận lợi cho Mỹ, nhưng có lẽ thời gian đạt được FTAAP cũng còn rất xa. Hiện nay, cả TPP và RCEP đều có cấu trúc theo hướng FTAAP, nhưng vẫn còn rất nhiều trở ngại để 1 trong 2 hiệp định này có thể mở rộng và phát triển thành FTAAP. Nếu Mỹ thấy TPP là một con đường khả thi hướng tới một FTAAP lành mạnh, Mỹ phải cam kết con đường này cho sự thành công của mình trong khu vực phát triển nhanh chóng này. Quốc hội Mỹ có thể tìm thấy sự hữu ích để duy trì phương pháp thương mại song phương hoặc thương mại không tự do với một số đối tác chiến lược (Hàn Quốc, Nhật Bản), trong khi tích cực theo đuổi một chiến lược thương mại tự do lớn với phần còn lại.
Tỷ lệ sản xuất cao và xuất khẩu chi phí thấp của các quốc gia châu Á là trở ngại cho sản xuất và xuất khẩu của Mỹ
Tỷ lệ sản xuất cao và xuất khẩu chi phí thấp của các quốc gia như Campuchia là những ví dụ của các trở ngại tiềm năng cho sản xuất và xuất khẩu của Mỹ, khi nhiều quốc gia nhỏ hơn tại châu Á có thể sản xuất hàng hóa với mức chi phí rẻ hơn rất nhiều so với Mỹ. Mỹ không nên thúc đẩy thương mại song phương với các quốc gia, nhưng phải tìm cách kết hợp các mối quan hệ với các nền kinh tế có giá trị cao trong khu vực, nhờ đó tạo ra một cơ chế cân bằng để bảo vệ thị trường lao động Mỹ. Các quan hệ đối tác chiến lược với các nhóm khu vực ở châu Á (ví dụ như ASEAN) là những cách tích cực để tìm kiếm sự tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong thương mại châu Á. ASEAN có nền kinh tế phát triển nhanh thứ hai ở châu Á, với GDP cộng gộp đạt 2,57 ngàn tỷ trong năm 2014. Tham gia vào thương mại với các quan hệ đối tác đã được thành lập và quy định là một cách an toàn để theo đuổi và bảo vệ lợi ích quốc gia ở châu Á.
Trên cơ sở này, Mỹ phải tham gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang phát triển, và Mỹ nên khuyến khích tự do hóa thương mại trong khi vẫn duy trì phương pháp truyền thống dữa trên nguyên tắc song phương và đa phương. Điều này nghe có vẻ đơn giản, nhưng câu hỏi là Mỹ sẽ đạt được lợi ích gì trong chiến lược này? Mỹ đã dẫn dắt hệ thống thương mại toàn cầu dựa trên quy tắc, và cũng đã thống trị quyền bá chủ kinh tế trên toàn thế giới trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, rõ ràng là Mỹ đang mất dần quyền bá chủ của mình trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Với sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc và các quốc gia châu Á khác, Mỹ phải ghi nhớ những mục đích chính trị riêng của mình. Đơn giản là đủ để hội nhập khu vực châu Á chỉ thông qua các biện pháp kinh tế, nhưng duy trì lợi ích trong một sự hiện diện chính trị không đổi. Như Matthew Goodman nói, sự hiện diện của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương là tối quan trọng đối với an ninh quốc gia. Mỹ duy trì mối quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc và các đồng minh kiên định trong khu vực để thúc đẩy sự tăng trưởng của Mỹ cùng với những quốc gia này.
Quan điểm chính trị này cũng chứa đựng yếu tố an ninh quốc gia. Để bảo vệ sự hiện và ảnh hưởng chính trị của Mỹ trong khu vực, Mỹ phải tiếp tục cho thế giới thấy được sức mạnh của mình trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Bằng cách duy trì một lực lượng quân sự phù hợp tại Hàn Quốc và Nhật Bản, và tiếp tục chính sách tự do hàng hải ở Biển Đông, Mỹ sẽ duy trì quyền giám sát của khu vực, đồng thời gửi thông điệp rằng sự hiện diện của Mỹ là cố định vĩnh viễn và cân bằng ở châu Á. Bằng cách này, các đối tác khác của Mỹ sẽ có thể bảo vệ quyền tự do riêng của họ về thương mại, qua đó tạo lập sức mạnh cho toàn bộ cơ sở hạ tầng thương mại khu vực.
Cuối cùng, những chiến lược này không nhằm để loại Trung Quốc hoặc làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Những chiến lược này là để duy trì và khuyến khích những sự hợp tác hiện có vốn cho phép các quốc gia nhỏ hơn hoạt động thương mại như các đối tác bình đẳng trong khu vực. Trung Quốc là trung tâm thương mại của lục địa này, và các quốc gia nhỏ hơn sẽ làm tốt theo sáng kiến của họ ở Trung Á và Trung Đông. Vai trò của Mỹ là bảo vệ lợi ích riêng của mình, mà nằm ở tất cả các đối tác thương mại trong khu vực.
Nguồn : https://www.geopoliticalmonitor.com– PT
Từ khóa : Tự do hóa, thương mại, trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, lợi ích, và thách thức, của Mỹ.
Các tin khác
- RCEP tiếp tục đàm phán vòng tiếp theo tại New Zealand - 06/06/2016
- EC công bố báo cáo về dán nhãn sinh thái thủy sản - 06/06/2016
- Thị thực chung ASEAN - 06/06/2016
- Đức góp 1 triệu EURO giúp các nước đang phát triển tham gia đàm phán - 06/06/2016
- Ngày 01/01/1994 – Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ có hiệu lực. - 06/06/2016






















