JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcBan Hội thẩm WTO bác bỏ phương pháp quy về 0 mà Mỹ sử dụng trong tranh chấp bán phá giá máy giặt Hàn Quốc

Ban Hội thẩm WTO bác bỏ phương pháp quy về 0 mà Mỹ sử dụng trong tranh chấp bán phá giá máy giặt Hàn Quốc

maygiat

Ban Hội thẩm WTO đã ban hành một quyết định hỗn hợp cho khiếu nại của Hàn Quốc về trường hợp Mỹ áp thuế chống bán phá giá và đối kháng đối với một số sản phẩm giặt của Hàn Quốc. Quyết định này đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử WTO, một Ban hội thẩm WTO đã ra được phán quyết rằng phương pháp tính thuế “quy về không” (zeroing) không phù hợp với các quy định của WTO trong một cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan đến cáo buộc "phá giá mục tiêu". Đây là một vấn đề đã được nêu ra trong nhiều năm qua, Mỹ khăng khăng cho rằng việc sử dụng phương pháp “zeroing” để áp thuế chống bán phá giá trước các hành động bán phá giá mục tiêu là phù hợp với Hiệp định Chống bán phá giá của WTO. Tuy nhiên, lần này Ban Hội thẩm WTO đã bác bỏ tuyên bố của Mỹ.

Zeroing chuyển theo nghĩa tiếng Việt có nghĩa là "Quy về không", trong quá trình tính biên độ phá giá, phương pháp tính toán Zeroing cho phép quy về 0 tất các các giao dịch có biên độ phá giá âm. Trường hợp giá xuất khẩu của một sản phẩm thấp hơn so với giá tại nước xuất khẩu, điều này tạo ra một biên độ phá giá “dương”. Tuy nhiên, khi sử dụng zeroing, cơ quan điều tra lại tính bằng không cho biên độ phá giá "âm", tức là, khi giá xuất khẩu của sản phẩm cao hơn so với giá tại nước xuất khẩu. Cơ quan điều tra không tính mức thuế bán phá dựa trên giá bình quân gia quyền của tỷ lệ dương và âm - thay vào đó, nó quy tất cả các giao dịch có biên độ bán phá giá âm về không. Điều này phản ánh sai biên độ phá giá trung bình chung, và có thể dẫn đến việc áp đặt hoặc duy trì thuế chống bán phá giá không công bằng. Đây là phương pháp thiên vị cho nước nhập khẩu, đặc biệt đối với các nước phát triển, nó được áp dụng trước khi Đạo luật chống bán phá giá năm 1995 được ban hành, nhưng đến nay đã được WTO bác bỏ hoàn toàn, Mỹ là nước cuối cùng vẫn áp dụng phương pháp này.

Cơ quan Phúc thẩm WTO đã ra phán quyết chống lại việc áp dụng phương pháp zeroing của Mỹ trong tiến trình đánh giá và điều tra ban đầu. Nhưng việc sử dụng phương pháp zeroing trong các tình huống được cho là "phá giá mục tiêu" vẫn là một câu hỏi mở cho đến tận bây giờ. “Phá giá mục tiêu”xuất hiện khi một nhà xuất khẩu bán một sản phẩm thấp hơn giá trị thông thường và giới hạn trong một số giao dịch, ví dụ trong một khoảng thời gian nhất định, cho một số đối tượng khách hàng nhất định hoặc trong một khu vực địa lý nhất định một cách có quy luật.

Các quy định trong Hiệp định Chống bán phá giá coi zeroing thuần túy là một phương pháp kỹ thuật, nhưng tác động của chúng đối với thương mại là có thật và đáng kể. Ban Hội thẩm WTO đã ra phán quyết cho trường hợp hiện tại. Nếu thực hiện được, thì sẽ giúp hạn chế việc Bộ Thương Mại Mỹ (DOC) áp thuế chống bán phá giá trong các tình huống bị cáo buộc bán phá giá mục tiêu. Nhiều thành viên của WTO sẽ cho rằng phán quyết này sẽ giúp khỏa lấp khe hở pháp lý còn lại trong các quy định của WTO về phương pháp zeroing. Phán quyết này này cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả của một khiếu kiện tương tự của Trung Quốc liên quan đến một số phương pháp được Mỹ áp dụng trong các cuộc điều tra chống bán phá giá đối với một số sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc (vụ việc DS471). Ban Hội thẩm WTO sẽ ra phán quyết về tranh chấp này vào cuối năm nay.

Trong trường hợp Hàn Quốc, đã có phản ứng mạnh mẽ từ các ngành công nghiệp của Mỹ. Chủ tịch liên đoàn ngành thép Mỹ (USW) đã đưa ra một tuyên bố hôm thứ Sáu rằng "Phán quyết của WTO là vượt quá thẩm quyền cũng như không có các bằng chứng và kêu gọi WTO nên rút lại phán quyết này. Nếu không, Mỹ sẽ nghiêm túc xem xét việc WTO có nên tồn tại hay không". Mỹ gần như chắc chắn kháng cáo phán quyết này.

Ba dạng áp dụng phương pháp tính thuế quy về 0

Điều 2.4 Hiệp định Chống bán phá giá của WTO quy định rằng một "so sánh công bằng" phải được thực hiện giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường. Điều 2.4.2 đưa ra các quy tắc nhất định để tính toán biên độ bán phá giá. Sau đây là ba phương pháp cơ bản mà cơ quan điều tra được sử dụng để tính toán biên độ phá giá:

  • "Bình quân gia quyền- bình quân gia quyền (W-W)": Biên độ phá giá của một nước xuất khẩu được tính bằng cách so sánh giá bình quân gia quyền tại thị trường nội địa với giá bình quân gia quyền tại thị trường Mỹ
  • "Bình quân gia quyền- giao dịch (T-T) ": so sánh giá bình quân gia quyền tại thị trường nội địa với giá của những giao dịch cụ thể tại Mỹ.
  • "Giá thông thường với bình quân gia quyền từng giao dịch với giá xuất khẩu của từng giao dịch (W-T)": Một giao dịch xuất khẩu cụ thể được so sánh với giá trị thông thường bình quân gia quyền. Điều 2.4.2 hạn chế việc áp dụng phương pháp này để trong trường hợp phá giá mục tiêu, tức là, nếu các cơ quan chức năng "tìm thấy giá xuất khẩu khác nhau rõ rệt giữa người mua khác nhau, khu vực địa lý hay khoảng thời gian khác nhau”.
  • "Quy định về phương pháp", theo đó "một cơ quan điều tra được phép sử dụng một phương pháp so sánh bất đối xứng khi so sánh bình quân gia quyền giá bình thường với giá của từng giao dịch xuất khẩu cụ thể";
  • "Quy định về mẫu", đòi hỏi sự tồn tại của một "mẫu giá xuất khẩu khác nhau rõ rệt giữa người mua khác nhau, khu vực hay khoảng thời gian"; và
  • "Quy định về sự giải thích", đòi hỏi các cơ quan điều tra giải thích lý do tại sao "khác biệt như vậy"không thể được áp dụng bằng các phương pháp thông thường.

Trong cuộc tranh chấp hiện nay, Hàn Quốc cáo buộc Bộ Thương Mại Mỹ (DOC) áp dụng phương pháp thứ ba, tức là, so sánh trung bình có trọng số từng giao dịch nhằm chấp nhận cáo buộc bán phá giá mục tiêu.

Một số lập luận quan trọng của Ban Hội thẩm WTO:

Ban Hội thẩm WTO trong trường hợp đã chỉ ra rằng phương pháp xác định bán phá giá thứ ba nên được sử dụng "chỉ trong trường hợp đặc biệt" nếu "các nhà chức trách tìm thấy bằng chứng giá xuất khẩu khác nhau rõ rệt giữa những người mua khác nhau, khu vực địa lý hay khoảng thời gian khác nhau, và nếu không có giải thích tại sao sự khác biệt như vậy thì thể áp dụng phương pháp so sánh W-W hay T-T".

Ban Hội thẩm cho rằng đối tượng và mục đích của phương pháp W-T chỉ là "nhằm giúp cơ quan điều tra "vạch mặt chỉ tên" cái gọi là "bán phá giá mục tiêu".

Ban Hội thẩm WTO phân tích quy định tại Điều 2.4.2 gồm ba thành phần:

Phương pháp xác định biên độ bán phá giá mục tiêu trong điều tra vụ máy giặt Hàn Quốc đã vi phạm "Quy định về phương pháp"

Ban Hội thẩm WTO đầu tiên phát hiện ra rằng phương pháp xác định biên độ bán phá giá mục tiêu trong quá trình điều tra vụ máy giặt đã vi phạm "Quy định về phương pháp". Và cho rằng phương pháp này "chỉ nên được áp dụng cho các giao dịch mà tạo thành" mẫu giá xuất khẩu có sự khác nhau rõ rệt giữa những người mua, khu vực hay khoảng thời gian khác nhau". Tuy nhiên, DOC đã áp dụng phương pháp tính toán này "cho tất cả các giao dịch, bao gồm cả các giao dịch khác so với những mẫu giao dịch mà DOC đã xác định". Hành động này này vi phạm Điều 2.4.2.

Ban Hội thẩm WTO cũng bác bỏ lập luận của của Hàn Quốc rằng phương pháp tính toán biên độ phá giá của DOC vi phạm các "điều khoản về mẫu". Hàn Quốc đã lập luận rằng Bộ Thương Mại Mỹ vi phạm Điều 2.4.2 trong việc "xác định mẫu giá xuất khẩu trong đó có ‘sự khác biệt đáng kể’ giữa đối tượng mua hàng, khu vực hay khoảng thời gian trên cơ sở các tiêu chí thuần túy về lượng, mà không có bất kỳ đánh giá định tính về các lý do chênh lệch giá ". Ban Hội thẩm WTO lập luận rằng "Mỹ không sai khi cho rằng giá khác nhau 'đáng kể' là sự chênh lệch dưới dạng thuần túy số học - so với giá so sánh khác, mà không ảnh hưởng bởi những lý do kèm theo sự khác biệt".

Ban Hội thẩm WTO cho rằng phương pháp của Mỹ là vi phạm "điều khoản giải thích" vì "trong cuộc điều tra chống bán phá giá máy gặt, DOC đã không xem xét liệu những trường hợp thực tế rằng việc chênh lệch giá như vậy có hay không gợi ý một cái gì đó khác hơn là hành vi bán phá giá mục tiêu ".

Không cho phép "tính gộp các biến giá ngẫu nhiên và không liên quan"

WTO đồng ý với lập luận Hàn Quốc về liên quan đến “bản thân quy định” như của Phương pháp tính khác biệt giá (DPM) của Bộ Thương Mại Mỹ, trong đó Hàn Quốc xác định đây là trường hợp phải áp dụng "biện pháp cơ bản". Ban Hội thẩm cho rằng DPM vi phạm “bản thân quy định” Điều 2.4.2 với lập luận:

Điều 2.4.2 nói rằng một trong những điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh W-T là việc xác định "mẫu giá xuất khẩu có sự khác biệt rõ rệt giữa những người mua khác nhau, khu vực hoặc khoảng thời gian”. Theo quan điểm của chúng tôi, cụm từ “người mua, khu vực hoặc khoảng thời gian khác nhau” là nhân tố quan trọng để xách định câu trả lời cho câu hỏi chúng liên quan đến xác định mẫu giá như thế nào. Việc sử dụng tác biệt bằng giới từ "hoặc" trong cụm từ này có cách hiểu khác nhau, ý nghĩa thông thường của nó chỉ ra rằng một "mẫu giá" xuất hiện khi phát hiện thấy giá cả có sự khác biệt đáng kể, hoặc cho các người mua hàng khác nhau, hoặc giữa các vùng địa lý khác nhau, hoặc trong những khoảng thời gian khác nhau. Điều này không bao gồm khả năng đưa ra mẫu giá mà cùng lúc thỏa mãn 3 điều kiện này. Chúng ủng hộ phương pháp tiếp cận này trước đó của Cơ quan Phúc thẩm đã xác định rõ rằng có 'ba loại phá giá mục tiêu', cụ thể là bán phá giá được nhắm mục tiêu người mua nhất định, nhắm mục tiêu đến khu vực nhất định, hoặc nhắm mục tiêu đến khoảng thời gian nhất định. Cơ quan Phúc thẩm đã không xác định bất kỳ loại khác nào của bán phá giá'mục tiêu'.

Từ lập luận trên, Ban Hội thẩm WTO đã xác định rằng DPM không phù hợp“bản thân quy định” của WTO, một phần vì "tính gộp các biến giá ngẫu nhiên và không liên quan, nó không phù hợp với "mẫu giá xuất khẩu mà có khác biệt rõ rệt giữa người mua khác nhau, khu vực hoặc khoảng thời gian" .

Sử dụng phương pháp zeroing đối với trường hợp phá giá mục tiêu không phù hợp với WTO.

Ban Hội thẩm WTO đã bắt đầu phân tích của mình về vấn đề này bằng cách ghi nhận rằng "Sử dụng Zeroing cùng với xác định biên độ bán phá giá theo phương pháp so sánh W-T là việc DOC không tính đến các biên độ phá giá “âm” (quy về không hết) để cho ra kết quả bằng cách so sánh giữa bình quân gia quyền giá bình thường và từng lần giao dịch xuất khẩu riêng biệt".

Ban Hội thẩm WTO đã thừa nhận rằng "câu thứ hai của Điều 2.4.2 cho phép cơ quan điều tra đặc biệt lưu tâm đến những hành vi làm giá của nhà xuất trong việc xác định giao dịch mẫu tính toán biên độ phá giá đối với nhà xuất khẩu đó". Tuy nhiên, nó nhấn mạnh rằng "nếu có yêu cầu như vậy thì toàn bộ các giao dịchlàm giá trong các mẫu này phải được đưa vào để tính toán. Chúng tôi thấy không có cơ sở để bỏ qua, hoặc quy về không, hay chỉ tính với các mẫu giao dịch riêng biệt co giá cao hơn giá thông thường".

Do đó Ban Hội thẩm WTOkết luận rằng áp dụng zeroing của DOC khi áp dụng phương pháp thứ ba là không phù hợp với cả “bản thân quy định” lẫn "áp dụng" WTO trong tiến trình điều tra chống bán phá giá đối với máy giặt của Hàn Quốc

Khiếu nại theo thỏa thuận SCM

Ban Hội thẩm WTO bác bỏ thách thức của Hàn Quốc đối với quan điểm WTO chấp thuận các biện pháp áp thuế đối kháng của Bộ Thương Mại Mỹ. Trong đó, Ban Hội thẩm đã không chấp nhận khiếu nại của Hàn Quốc rằng các chương trình đối kháng của DOC không phải là trường hợp "đặc biệt" theo Hiệp định SCM.

Báo cáo của Ban hội thẩm WTO trong trường hợp Mỹ - Các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối về máy giặt cỡ lớn từ Hàn Quốc (DS464), ban hành vào ngày 11 tháng 3 năm 2016.

Nguồn : http://www.jdsupra.com – PT

Từ khóa : Ban, hội thẩm, WTO, bác bỏ, phương pháp, 0, Mỹ, sử dụng, tranh chấp, bán phá giá, máy giặt, Hàn Quốc.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008777562
Go to top