Công ty cho thuê sân khấu tổ chức sự kiện uy tín tại Hà Nội. Công ty cho thuê backdrop uy tín tại Hà Nội - nhiều mẫu mã đẹp. Dịch vụ chữa tắc tia sữa tại nhà, cam kết hiệu quả 100%. Công ty cung cấp, cho Thuê người đại diện cưới hỏi toàn quốc.

Menu
Phân tích - Bình luậnĐàm phán NAFTA _ “phép thử” quan trọng dành cho Trump

Tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đối với nền kinh tế Việt Nam

Vietnam-european

Giới thiệu

2015 được cho năm đánh dấu bước hội nhập sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam khi tham gia vào nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA). Trong các Hiệp định FTA song phương và đa phương mà Việt Nam đã và đang tham gia đàm phán ký kết, Hiệp định FTA Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU) được đánh giá là Hiệp định thế hệ mới với sự mở cửa toàn diện, sâu rộng nhất và có tác động mạnh nhất tới kinh tế Việt Nam.

Tiềm năng của thị trường EU đối với nền kinh tế Việt Nam

Liên minh châu Âu (the European Union, gọi tắt là EU) hiện bao gồm 28 nước thành viên: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua, Anh, Ai-Len, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thuỵ Điển, Phần Lan, Séc, Hung-ga-ri, Ba Lan, Slô-va-kia, Slô-ve-nia, Lít-va, Lát-vi-a, Ét-xtô-ni-a, Man-ta, Síp, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni, Crô-a-ti-a. Với dân số trên 507 triệu người, EU sẽ là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho hàng hóa Việt Nam. EU cũng là khối kinh tế lớn nhất thế giới với GDP đạt 18.000 tỷ USD, chiếm 22% tổng GDP toàn cầu. Tổng kim ngạch thương mại của EU đạt xấp xỉ 4.000 tỷ USD, giá trị xuất khẩu dịch vụ của EU đứng đầu thế giới và đầu tư ra nước ngoài chiếm gần 40% vốn FDI toàn cầu.

Thị phần của EU trong tổng thương mại thế giới chiếm khoảng 24,7% về xuất khẩu và 21,2% nhập khẩu. Năm 2013, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - EU đạt trên 21 tỷ euro, và thặng dư thương mại cho Việt Nam lên tên 15 tỷ euro; Năm 2014 kim ngạch xuất khẩu của Việt nam sang EU tiếp tục gia tăng và đạt trên 22 tỷ euro.

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – EU giai đoạn 2010-2014

Đơn vị tính: Eur, Kg

Năm

2010

2011

2012

2013

2014

VN xuất khẩu sang EU

Giá trị

9,625,126,460

12,993,018,859

18,621,828,220

21,253,393,106

22,171,272,549

Khối lượng

2,827,205,000

3,020,535,000

3,084,139,000

3,062,751,000

3,749,532,000

VN nhập khẩu từ EU

Giá trị

4,682,710,578

5,192,828,988

5,368,793,168

5,778,444,459

6,179,783,474

Khối lượng

2,133,525,000

2,138,090,000

1,971,297,000

2,154,170,000

2,656,438,000

Nguồn: Cơ sở Dữ liệu Hỗ trợ Xuất khẩu của EU - Export Helpdesk

EU là đối tác đầu tư FDI hàng đầu của Việt Nam với 23/28 nước thành viên EU có các dự án đầu tư vào Việt Nam. Tính đến hết năm 2014, các nước thành viên EU đã đầu tư vào Việt Nam hơn 1.800 dự án, với tổng vốn đăng ký trên 32,8 tỷ USD, vốn thực hiện hơn 13 tỷ USD. Các nhà đầu tư EU đã có mặt trong hầu hết các ngành nghề kinh tế quan trọng của Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp và xây dựng (chiếm 50,1% số dự án và 50,6% tổng vốn đầu tư), tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ (khoảng 40% số dự án và 42% tổng vốn đầu tư).

Theo đánh giá của Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocharm), một khi Hiệp định FTA Việt Nam – EU (EVFTA) được ký kết, xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ tăng 30-40% và xuất khẩu của EU vào Việt Nam cũng sẽ tăng 20-25%. Đồng thời, Hiệp định này cũng trở thành động lực thúc đẩy Việt Nam đẩy mạnh hơn nữa công cuộc thực hiện cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh…

EVFTA - Hiệp định thế hệ mới

Trải qua 11 vòng đàm phán, Hiệp định EVFTA hiện đang trong giai đoạn về đích, dự kiến được ký kết và triển khai trong năm 2015. Hiệp định EVFTA được đánh giá là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, mở cửa thị trường toàn diện, chất lượng cao theo tiêu chuẩn WTO. Cấu trúc của Hiệp định này có sự khác biệt đáng kể so với các Hiệp định thương mại tự do trước đây Việt Nam đã ký kết. Các FTA trước đây chỉ có tiêu chuẩn trung bình và chủ yếu tập trung vào việc cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ nhưng không vượt quá cam kết trong WTO. Với EVFTA, ngoài những vấn đề đã có trong các FTA đã ký còn có những vấn đề Việt Nam chưa từng cam kết như: Đầu tư (cả trong sản xuất và dịch vụ), chính sách đối với Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), mua sắm công, lao động, môi trường… Theo đó, Hiệp định hướng tới bảo đảm bình đẳng giữa mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực, đặt DNNN vào cuộc chơi cạnh tranh bình đẳng, Nhà nước không tiếp tục có những chính sách ưu đãi cho DNNN như cấp vốn, tái cấp vốn, xóa nợ, bảo lãnh cho DNNN, cấm các nghiệp vụ bù chéo trong DNNN. Các DNNN hiện đang hoạt động trong lĩnh vực độc quyền khi tham gia kinh doanh lĩnh vực có cạnh tranh cũng bị điều chỉnh bởi cam kết này. Phạm vi điều chỉnh của cam kết có hiệu lực cả với các DNNN Trung ương và các DNNN địa phương.

Bên cạnh đó, Hiệp định EVFTA cũng đã đặt ra quy định về vấn đề mua sắm công, với những cam kết bắt buộc các bên tham gia phải thực thi. Mua sắm công, tất cả các loại mua sắm công hoặc do cơ quan Nhà nước mua sắm đều phải thông qua đấu thầu công khai. Ví dụ, khi nhà nước muốn mua trang thiết bị y tế thì phải tổ chức đấu thầu công khai và các doanh nghiệp của EU được quyền tham gia đấu thầu mà không bị giới hạn hơn so với các doanh nghiệp khác. Ngoài ra, các yêu cầu cơ chếgiải quyết tranh chấp và khiếu kiện sẽ rất nghiêm ngặt. Trong tất cả các vòng đàm phán, phía EU đòi hỏi khá cao về mở cửa thị trường phi hàng hóa, đặc biệt thị trường thương mại dịch vụ, thị trường mua sắm Chính phủ, trong khi lợi ích của Việt Nam trong Hiệp định này lại chủ yếu nằm ở khía cạnh thương mại hàng hóa. Nếu như, các Hiệp định FTA Việt Nam ký với ASEAN có cam kết cắt giảm 90% dòng thuế trong lộ trình 10 năm, thì với Hiệp định EVFTA tiêu chuẩn tối thiểu 90/7 tức là loại bỏ 90% dòng thuế trong vòng 7 năm và hai bên sẵn sàng đẩy nhanh tiến độ hơn mức cam kết này. EU cũng tuyên bố sẵn sàng mở cửa thị trường của mình nhanh hơn để tạo điều kiện tốt cho Việt Nam thâm nhập vào thị trường EU.

Kết quả đàm phán EVFTA

Ngày 4 tháng 8 năm 2015, Việt Nam và EU đã công bố kết thúc cơ bản đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và EU (Hiệp định EVFTA).

Tháng 10 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Châu Âu (EU) đã đồng ý khởi động đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA) sau khi hai Bên hoàn tất các công việc kỹ thuật.

Thực hiện chỉ đạo của hai Nhà Lãnh đạo, Việt Nam và EU đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA vào ngày 26 tháng 6 năm 2012. Sau gần 3 năm đàm phán, với 14 phiên chính thức và nhiều phiên giữa kỳ ở cấp Bộ trưởng, cấp Trưởng đoàn và các nhóm kỹ thuật, Việt Nam và EU đã đạt được thỏa thuận nguyên tắc về toàn bộ các nội dung cơ bản của Hiệp định.

EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Các nội dung chính của Hiệp định gồm: Thương mại hàng hóa, Quy tắc xuất xứ, Hải quan và thuận lợi hóa thương mại, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Thương mại dịch vụ, Đầu tư, Phòng vệ thương mại, Cạnh tranh, Doanh nghiệp nhà nước, Mua sắm của Chính phủ, Sở hữu trí tuệ (gồm cả chỉ dẫn địa lý), Phát triển bền vững, Hợp tác và xây dựng năng lực, Các vấn đề pháp lý.

Các lĩnh vực cụ thể

Thương mại hàng hóa

Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%. 

Đối với các nhóm hàng quan trọng, cam kết của EU như sau:

- Dệt may, giày dép và thủy sản (trừ cá ngừ đóng hộp và cá viên): EU sẽ xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu cho các sản phẩm của Việt Nam trong vòng 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Với cá ngừ đóng hộp, EU đồng ý dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch thuế quan thỏa đáng. 

- Gạo: EU dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch đáng kể đối với gạo xay xát, gạo chưa xay xát và gạo thơm. Gạo nhập khẩu theo hạn ngạch này được miễn thuế hoàn toàn. Riêng gạo tấm, thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ theo lộ trình. Đối với sản phẩm từ gạo, EU sẽ đưa thuế nhập khẩu về 0% trong vòng 7 năm. 

- Mật ong: EU sẽ xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và không áp dụng hạn ngạch thuế quan.

- Toàn bộ các sản phẩm rau củ quả, rau củ quả chế biến, nước hoa quả khác, túi xách, vali, sản phẩm nhựa, sản phẩm gốm sứ thủy tinh: về cơ bản sẽ được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực.

Đối với xuất khẩu của EU, cam kết của Việt Nam đối với các mặt hàng chính là:

- Ô tô, xe máy: Việt Nam cam kết đưa thuế nhập khẩu về 0% sau từ 9 tới 10 năm; riêng xe máy có dung tích xy-lanh trên 150 cm3  có lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu là 7 năm;

- Rượu vang, rượu mạnh, bia, thịt lợn và thịt gà: Việt Nam đồng ý xóa bỏ thuế nhập khẩu trong thời gian tối đa là 10 năm.

Về thuế xuất khẩu, Việt Nam cam kết xóa bỏ phần lớn thuế xuất khẩu sau lộ trình nhất định; chỉ bảo lưu thuế xuất khẩu đối với một số sản phẩm quan trọng, trong đó có dầu thô và than đá.  

Các nội dung khác liên quan tới thương mại hàng hóa: Việt Nam và EU cũng thống nhất các nội dung liên quan tới thủ tục hải quan, SPS, TBT, phòng vệ thương mại, v.v, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên hợp tác, tạo thuận lợi cho xuất khẩu, nhập khẩu của các doanh nghiệp. 

Thương mại dịch vụ và đầu tư

Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên. Cam kết của Việt Nam có đi xa hơn cam kết trong WTO. Cam kết của EU cao hơn trong cam kết trong WTO và tương đương với mức cam kết cao nhất của EU trong những Hiệp định FTA gần đây của EU. 

Các lĩnh vực mà Việt Nam cam kết thuận lợi cho các nhà đầu tư EU gồm một số dịch vụ chuyên môn, dịch vụ tài chính, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ phân phối. Hai bên cũng đưa ra cam kết về đối xử quốc gia trong lĩnh vực đầu tư, đồng thời thảo luận về nội dung giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước.

Mua sắm của Chính phủ

Việt Nam và EU thống nhất các nội dung tương đương với Hiệp định mua sắm của Chính phủ (GPA) của WTO. Với một số nghĩa vụ như đấu thầu qua mạng, thiết lập cổng thông tin điện tử để đăng tải thông tin đấu thầu, v.v, Việt Nam có lộ trình để thực hiện. EU cũng cam kết dành hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam để thực thi các nghĩa vụ này. 

Việt Nam bảo lưu có thời hạn quyền dành riêng một tỷ lệ nhất định giá trị các gói thầu cho nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ và lao động trong nước. 

Sở hữu trí tuệ

Cam kết về sở hữu trí tuệ gồm cam kết về bản quyền, phát minh, sáng chế, cam kết liên quan tới dược phẩm và chỉ dẫn địa lý, v.v. Về cơ bản, các cam kết về sở hữu trí tuệ của Việt Nam là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. 

Về chỉ dẫn địa lý, khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bảo hộ trên 160 chỉ dẫn địa lý của EU (bao gồm 28 thành viên) và EU sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam. Các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam đều liên quan tới nông sản, thực phẩm, tạo điều kiện cho một số chủng loại nông sản của Việt Nam xây dựng và khẳng định thương hiệu của mình tại thị trường EU. 

Các nội dung khác

Hiệp định EVFTA cũng bao gồm các Chương liên quan tới cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước,  phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý-thể chế. Các nội dung này phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên tăng cường hợp tác, thúc đẩy sự phát triển của thương mại và đầu tư giữa hai Bên.

Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

Một thị trường rộng lớn và khó tính như EU luôn mở ra những cơ hội và thách thức đối với các bên tham gia. Hiệp định EVFTA ngoài kỳ vọng cắt giảm các loại thuế quan vào EU, còn là cơ hội hạn chế khối quốc gia này áp dụng các hàng rào phi thuế quan đối với các sản phẩm của Việt Nam. Rào cản phi thuế quan lớn nhất ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam sang EU liên quan đến việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại của EU, chủ yếu là chống bán phá giá cũng như các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) và các rào cản kỹ thuật (TBT).

EU ít khả năng sẽ nhượng bộ các vấn đề thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng đối với Việt Nam và FTA có thể không có tác động quan trọng nào trong việc ngừng sử dụng các biện pháp chống bán phá giá và đối kháng của EU. Ngược lại, FTA có thể đặt ra những yêu cầu chặt chẽ hơn đối với Việt Nam trong vấn đề bán phá giá, trợ cấp và sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại – trừ khi trong khuôn khổ đàm phán FTA, EU công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trước thời hạn của WTO. Tương tự, việc công nhận ngay lập tức quy chế nền kinh tế thị trường phải được coi là ưu tiên đàm phán của Việt Nam trong FTA với EU. Tuy nhiên, nếu Việt Nam không đạt được sự công nhận này, Việt Nam nên đàm phán với EU về khung thời gian thích hợp cho việc công nhận này và phải đảm bảo thời hạn này tương ứng với thời hạn mà Trung Quốc sẽ được xem là nền kinh tế thị trường theo WTO.

Về các biện pháp SPS và TBT, có lẽ việc đàm phán để giảm các rào cản SPS và TBT sẽ không xảy ra. Thậm chí sau khi đưa ra chiến lược “châu Âu toàn cầu”, chính sách của EU vẫn không đổi: vẫn nhằm mục đích giải quyết các rào cản phi thuế nhưng phải có lợi cho các nhà xuất khẩu EU. Nhiều khả năng FTA giữa EU và Việt Nam sẽ đưa ra khung hỗ trợ kỹ thuật, thỏa luận và hợp tác hơn nữa về vấn đề SPS và TBT. Cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng của đàm phán các điều khoản hợp tác toàn diện. Về vấn đề này, hiệp định EU đã ký kết với các nước ACP (các nước thuộc châu Phi, Caribe và Thái Bình Dương - thuộc địa cũ của châu Âu) có thể là một chuẩn mực hữu ích trong mở rộng hợp tác về các vấn đề SPS và TBT mà Việt Nam mong muốn đạt được với EU. Trong các hiệp định này, hợp tác bao gồm cả đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật, các biện pháp thúc đẩy chuyển giao tri thức và tăng cường các dịch vụ công. Việt Nam có thể xem xét yêu cầu EU các mức tương tự như những thỏa thuận các nước ACP đã đạt được và yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật từ EU trong quá trình đàm phán.

Cùng với việc đem lại lợi ích cho Việt Nam từ loại bỏ thuế quan khi Hiệp định có hiệu lực và tiếp cận thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ, Hiệp định EVFTA còn tác động lên các luồng vốn đầu tư vào Việt Nam. Việc cắt giảm thuế xuất khẩu sang EU sẽ tạo động lực chuyển luồng đầu tư vào Việt Nam để hướng tới xuất khẩu sản phẩm cuối cùng sang EU. Điều này sẽ có tác động trực tiếp đối với DN nhỏ và vừa, đặc biệt đối với những người sản xuất sản phẩm trung gian và các thành phần được bao gồm trong sản phẩm cuối cùng xuất khẩu sang EU và thị trường nước ngoài khác. Tuy nhiên, EU có một số mặt hàng nhạy cảm như đường và sản phẩm có đường, gạo, thủy sản nên đang tìm mọi cách để hạn chế khả năng tiếp cận của Việt Nam. Ngoài ra, vấn đề hàng rào kỹ thuật, hàng rào vệ sinh an toàn thực phẩm của EU rất chặt chẽ, EU đề cao tiêu chuẩn hàng hóa liên quan đến sức khỏe đời sống của con người. Những yêu cầu về vệ sinh, kiểm dịch; đóng gói, bao bì; khả năng truy soát nguồn gốc và thủ tục hải quan nghiêm ngặt, các tiêu chuẩn do EU áp đặt thường nằm trong số các tiêu chuẩn cao nhất trên thế giới và khó đạt được nhất với chi phí cao nhất là thách thức đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Như vậy, có thể thấy điểm nổi bật trong quan hệ thương mại - đầu tư giữa Việt Nam và EU là tính bổ sung lẫn nhau, rất ít lĩnh vực mà hai bên cạnh tranh đối đầu. Vì vậy, cả Việt Nam và EU đều tin tưởng hiệp định thương mại tự do song phương sẽ mang lại lợi ích lớn nhưng cũng không ít thách thức cho cả hai bên. Riêng với Việt Nam, thuận lợi và thách thức đặt ra sẽ là:

Thứ nhất, Hiệp định EVFTA sẽ giúp mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu, đặc biệt là những sản phẩm mà ta có thế mạnh, góp phần tạo việc làm, hỗ trợ tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Thứ hai, Hiệp định EVFTA sẽ giúp ta thực hiện chủ trương đa dạng hóa quan hệ kinh tế - thương mại, đặc biệt là đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, tránh phụ thuộc quá mức vào một khu vực cụ thể.

Thứ ba, Hiệp định EVFTA sẽ thiết lập cơ chế ưu đãi ổn định cho hàng xuất khẩu của Việt Nam mà không phụ thuộc vào Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU. Hiện nay, EU vẫn định kỳ xem xét và có thể rút lại ưu đãi GSP theo các tiêu chí riêng của EU mà ta không can thiệp được. Hiệp định EVFTA cũng sẽ giúp đẩy nhanh việc EU công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ, giúp hàng xuất khẩu của ta không phải chịu sự phân biệt đối xử trong các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp của EU.

Thứ tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp thúc đẩy luồng vốn đầu tư chất lượng cao của EU vào Việt Nam. Với quy mô và tiềm năng của EU, nước ta có cơ hội trở thành địa bàn thu hút mạnh đầu tư của EU và là điểm trung chuyển, kết nối các hoạt động thương mại - đầu tư của EU tại khu vực ASEAN. Tác động này sẽ được cộng hưởng mạnh mẽ khi Cộng đồng kinh tế ASEAN hình thành.

Cũng với các thời cơ trên, thách thức mới đặt ra đối với nước ta là: Một là, gia tăng chi phí xuất phát từ việc thực hiện các nghĩa vụ về sở hữu trí tuệ theo FTA; Hai là, các biện pháp có khả năng hạn chế sự tiếp cận các loại thuốc chữa bệnh với giá phải chăng cho người dân vẫn tồn tại. Tại Việt Nam, 21,45% dân số có thu nhập dưới 1,25 USD/ngày và việc tăng giá thuốc chữa bệnh sẽ là vấn đề; Ba là, liên quan đến tác động mạnh mẽ của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với ngành nông nghiệp của Việt Nam. Tác động lan tỏa của đổi mới từ đầu tư nghiên cứu nông nghiệp có nhiều khả năng bị nắm giữ bởi các nhóm lợi ích thay cho thúc đẩy phát triển và phổ biến công nghệ trong hệ thống phân bổ sự sáng tạo. Bốn là, liên quan đến tiếp cận tri thức, “sự cân bằng về quyền tác giả” đã được thay đổi theo hướng có lợi cho chủ thể quyền và bất lợi cho người sử dụng.

Khuyến nghị

Để tận dụng tốt thời cơ, hạn chế được các thách thức khi Hiệp định EVFTA ký kết, đi vào thực thi, Việt Nam còn rất nhiều việc cần thay đổi để thích ứng. Cụ thể:

Thứ nhất, cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo các chuẩn mực quốc tế. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và hệ thống luật pháp; Hoàn thiện và đồng bộ hóa các thị trường trong nước; Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi và thông thoáng cho các hoạt động này theo hướng thị trường, phù hợp với các cam kết quốc tế và Hiệp định EVFTA.

Thứ hai, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hoàn thiện tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng tại các khu vực kinh tế trọng điểm trong cả nước. Đồng thời, đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, thị trường tài chính, ngân hàng; Tập trung nguồn lực, cơ chế chính sách nhằm phát triển công nghiệp phụ trợ…

Thứ ba, Việt Nam cần phải định hướng xây dựng ngành kinh tế mũi nhọn nhằm tận dụng cơ hội của FTA với EU.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế quản lý và giám sát các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trsi tuệ mà Việt Nam đã cam kết trong hiệp định.

Thứ năm, Chính phủ cần hỗ trợ DN bằng các giải pháp sau: Xây dựng hệ thống kế toán quản trị cho các DN Việt Nam và khuyến khích các DN áp dụng; tăng cường năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện hỗ trợ hợp lý nhằm gia tăng vai trò của các DN; Bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của các DN, đặc biệt là các DNVVN Việt Nam.

Cộng đồng DN Việt Nam nói chung và các DN tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu nói riêng nếu hướng đến thị trường châu Âu, cần phải trang bị cho mình một lượng kiến thức căn bản về quản trị, quản lý và thị trường mà trước mắt là các quy định tại Hiệp định EVFTA. Đồng thời, thực hiện, áp dụng triệt để các tiêu chuẩn quốc tế vào hoạt động sản xuất kinh doanh; phải dần hình thành thói quen sử dụng tư vấn pháp lý và chuyên gia tư vấn để hiều rõ luật chơi của FTA.

Tài liệu tham khảo:

1. Đánh giá tác động của các Hiệp định FTA đối với kinh tế Việt Nam – Dự án hỗ trợ Đa biên;

2. Diễn biến các vòng đàm phán Hiệp định EVFTA -Trung tâm hội nhập WTO;

3. Hiệp định EVFTA: Dự báo tác động tới nền kinh tế Việt Nam - Dự án MUTRAP;

4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Việt Nam từ các năm 2010 – 2014 (Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan)...

Mai Duyến -TTWTO TP.HCM

Từ khóa: Tác động, Hiệp định thương mại tự do, Việt Nam – EU, đối với, nền kinh tế Việt Nam

Phân tích - Bình luận

Menu

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 mondialsolution

Trang thông tin này được thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của dự án BWTO    
004210345
Go to top